Đứng thứ hai cả nước với 52,49 tỷ USD vốn FDI đăng ký lũy kế, Bắc Ninh đang đối diện câu hỏi mới: làm thế nào để doanh nghiệp nội địa, hạ tầng khu công nghiệp và logistics theo kịp yêu cầu của các tập đoàn công nghệ cao. Vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn Công nghiệp Bắc Ninh 2026, chiều 4/11.

Vị trí thứ hai cả nước và yêu cầu nâng chất dòng vốn
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) do Phó Cục trưởng Vương Thị Minh Hiếu ký, đến tháng 9/2026 cả nước có 48.106 dự án FDI còn hiệu lực. Tổng vốn đăng ký đạt trên 571,1 tỷ USD, đến từ 154 quốc gia và vùng lãnh thổ; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 61%.
Bắc Ninh có 3.705 dự án với 52,49 tỷ USD, chỉ xếp sau TP.HCM (156,79 tỷ USD). Định hướng của trung ương cũng đã thay đổi: Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu thu hút 200–300 tỷ USD vốn FDI đăng ký đến năm 2030, trong đó 75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển. Khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam được kỳ vọng tham gia chuỗi cung ứng của khối FDI.
Trọng tâm chuyển từ quy mô vốn sang chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Các lĩnh vực ưu tiên gồm bán dẫn, điện tử, thiết bị thông minh, công nghiệp hỗ trợ và nghiên cứu – phát triển.
Doanh nghiệp Nhật mở rộng, nhà cung ứng nội địa vẫn là điểm nghẽn
Ông Takahiro Kono, Giám đốc dự án JETRO Hà Nội, dẫn khảo sát cho thấy 56,9% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có kế hoạch mở rộng kinh doanh trong 1–2 năm tới. Việt Nam dẫn đầu ASEAN về chỉ số này năm thứ hai liên tiếp; chỉ 4,2% doanh nghiệp tính thu hẹp và 0,7% tính chuyển sang nước khác.
Riêng Bắc Ninh, 9 tháng đầu năm đón 277 dự án mới của doanh nghiệp Nhật Bản với tổng vốn khoảng 1,79 tỷ USD, xếp thứ ba cả nước về số dự án, sau TP.HCM và Hà Nội.
Tỷ lệ thu mua nội địa của doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam đạt 38,1%, tăng 1,5 điểm so với năm trước. Phần mua từ doanh nghiệp Việt Nam đạt 18,3%, mức cao nhất kể từ khi JETRO khảo sát. Dù vậy, 58,9% doanh nghiệp vẫn nêu tình trạng thiếu nhà sản xuất nguyên liệu tại chỗ, và 54,4% cho rằng chất lượng, năng lực kỹ thuật của nhà cung cấp nội địa chưa đáp ứng.
Khu công nghiệp thế hệ mới: từ mặt bằng sang hệ sinh thái
Theo ông Đinh Nam Thắng, Phó Trưởng ban Ban Quản lý các KCN Bắc Ninh, 10 tháng đầu năm 2026 tỉnh có 183 dự án đăng ký mới và hơn 264 lượt dự án tăng vốn, tổng vốn đạt 4.418,99 triệu USD; 216 doanh nghiệp mới đi vào sản xuất. Hiện 23/40 khu công nghiệp đã hoạt động với hơn 2.310 dự án còn hiệu lực. Quỹ đất sạch khoảng 600 ha, dự kiến tăng lên khoảng 1.155 ha vào cuối năm 2026.
Ban Quản lý xác định đất đai và nhà xưởng vẫn quan trọng nhưng không còn đủ để tạo lợi thế dài hạn. Nhà đầu tư cần thêm công nghệ, nhân lực, nhà cung ứng, logistics, năng lượng và dịch vụ hỗ trợ. Từ đó, tỉnh theo đuổi ba hướng chuyển dịch: từ hạ tầng sản xuất sang hạ tầng hệ sinh thái; từ thu hút dự án riêng lẻ sang cụm liên kết ngành; từ tăng trưởng theo quy mô sang cạnh tranh bằng chất lượng và tính bền vững.
Mục tiêu đến năm 2030 là có từ 700 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trở lên, trong đó khoảng 60% doanh nghiệp nội địa đạt tiêu chuẩn quản lý quốc tế và trở thành nhà cung cấp chính thức cho các tập đoàn lớn.
Hạ tầng kỹ thuật và logistics: những nền móng ít được nhìn thấy
Ở góc độ nhà phát triển, ông Đinh Hoài Nam, Giám đốc Cấp cao Phát triển Kinh doanh & Thương mại SLP Việt Nam, cho rằng nhà đầu tư hiện nay tìm một nền tảng vận hành nhanh, kết nối tốt với nhà cung ứng và thị trường xuất khẩu, thay vì chỉ một vị trí giá rẻ. Vì vậy, hạ tầng công nghiệp và logistics cần được quy hoạch như một mạng lưới thống nhất. Dự án nhà xưởng xây sẵn SLP Park Tiên Du dự kiến vận hành từ quý I/2027.
Về hạ tầng kỹ thuật, ông Nguyễn Duy Bình, Giám đốc Kinh doanh Nhựa Bình Minh Miền Bắc, xem cấp thoát nước là cấu phần chiến lược: một sự cố rò rỉ hay gián đoạn cấp nước có thể kéo theo chậm tiến độ sản xuất ở nhiều mắt xích. Ông đề xuất lựa chọn giải pháp theo chất lượng và tổng chi phí vòng đời, không chỉ theo giá mua ban đầu. Theo số liệu ông dẫn, tính đến 18/6/2026, các KCN Bắc Ninh có 2.297 dự án thứ cấp còn hiệu lực, vốn đăng ký hơn 45,5 tỷ USD từ 41 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sự hiện diện của Samsung, Foxconn, Luxshare, Goertek, Amkor và Canon.
Ở đầu ra của chuỗi, Cảng quốc tế TIL Cảng Hải Phòng (HTIT) tại Lạch Huyện có thể tiếp nhận tàu container đến 165.000 DWT, công suất thiết kế 1,35 triệu TEU/năm, kết nối với hệ thống cảng Tân Vũ, Đình Vũ, các depot container và trung tâm logistics xung quanh.
Nhận định
Điểm chung của các ý kiến tại diễn đàn là lợi thế của Bắc Ninh không còn đo bằng số khu công nghiệp hay tổng vốn đăng ký, mà bằng mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nội địa, logistics và hạ tầng. Với lĩnh vực xây dựng công nghiệp, điều này đồng nghĩa yêu cầu đối với nhà xưởng cũng thay đổi: tiến độ bàn giao nhanh hơn, hạ tầng kỹ thuật được tính theo cả vòng đời vận hành, và tiêu chuẩn thi công phải đáp ứng được các chuỗi cung ứng điện tử, bán dẫn.
Nguồn: Báo Đầu tư – “FDI hơn 52 tỷ USD, Bắc Ninh tìm lời giải cho chuỗi cung ứng công nghệ cao”, Anh Hoa, 04/11/2026.












