Trong thiết kế kết cấu thép, đặc biệt là nhà xưởng công nghiệp nhẹ có nhịp lớn (Pre-engineered Steel Buildings), tải trọng gió thường là yếu tố quản trị (governing factor) quyết định kích thước cấu kiện và giải pháp móng. Sự ban hành TCVN 2737:2023 “Tải trọng và Tác động” thay thế cho phiên bản 1995 đã tạo ra một “cú sốc” kỹ thuật tích cực, buộc các đơn vị tư vấn và thi công như Hải Long phải tái định hình quy trình tính toán để đảm bảo sự an toàn trước các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng.
1. Bản chất của Tải trọng Gió trong TCVN 2737:2023
Sự thay đổi căn bản nhất trong TCVN 2737:2023 là phương pháp xác định áp lực gió. Tiêu chuẩn cũ (1995) sử dụng vận tốc gió trung bình trong 3 giây (3-second gust) nhưng lại được quy đổi và hiểu theo nhiều cách khác nhau, dẫn đến sự thiếu nhất quán. Tiêu chuẩn mới 2023 đã hài hòa hóa với các tiêu chuẩn quốc tế như ASCE 7 (Mỹ) và Eurocode 1.
TCVN 2737:2023 đưa ra khái niệm rõ ràng về chu kỳ lặp tải trọng. Đối với tải trọng gió dùng để kiểm tra bền (ULS), chu kỳ lặp có thể là 430 năm hoặc 700 năm, tương đương với xác suất vượt tải thấp trong vòng đời công trình. Điều này dẫn đến việc áp dụng hệ số độ tin cậy về tải trọng gió là 2.1 (để chuyển đổi từ chu kỳ lặp 10 năm hoặc 20 năm sang chu kỳ cực hạn), thay vì hệ số 1.2 như trước đây. Sự thay đổi này làm tăng đáng kể mô-men lật và lực nhổ tại chân cột, đòi hỏi bu lông neo và móng phải được thiết kế lớn hơn, một thách thức mà Hải Long đã giải quyết thông qua việc tối ưu hóa thiết kế móng cọc và bu lông cường độ cao.
2. So sánh với ASCE 7 và Eurocode 1
- ASCE 7-16: TCVN 2737:2023 chịu ảnh hưởng lớn từ ASCE 7 trong cách tiếp cận vận tốc gió 3 giây và các hệ số áp lực. Tuy nhiên, bản đồ gió của Việt Nam có đặc thù riêng do nằm trong vùng bão nhiệt đới, do đó giá trị tại các vùng ven biển (như Quảng Ninh, Hải Phòng – địa bàn hoạt động mạnh của Hải Long) thường cao hơn so với các vùng tương đương ở Mỹ.
- Eurocode 1 (EN 1991-1-4): Sử dụng vận tốc gió trung bình 10 phút (10-minute mean wind speed). Để so sánh hoặc chuyển đổi thiết kế, cần sử dụng các hệ số chuyển đổi. Eurocode cũng rất chi tiết trong việc xác định hệ số địa hình và nhiễu loạn, phù hợp cho các công trình có hình dáng khí động học phức tạp.
3. Tải trọng Động đất và Tác động Môi trường
Bên cạnh gió, TCVN 2737:2023 cũng dẫn chiếu sang TCVN 9386:2012 (chấp nhận Eurocode 8) cho thiết kế kháng chấn. Đối với các nhà máy công nghiệp chứa thiết bị nặng hoặc kho kệ cao tầng (racking system), tải trọng động đất có thể trở thành yếu tố nguy hiểm do khối lượng tham gia dao động lớn.
4. Ứng dụng Thực tế
Việc áp dụng TCVN 2737:2023 đòi hỏi các đơn vị thi công kết cấu thép cập nhật quy trình thiết kế:
- Phần mềm: Sử dụng các module tính toán gió tự động theo ASCE 7 (có hiệu chỉnh thông số Việt Nam) trong các phần mềm như Robot Structural Analysis hoặc Tekla Structural Designer để mô phỏng chính xác phân bố áp lực gió, đặc biệt là tại các vùng mép mái và góc tường (nơi có hệ số áp lực cục bộ rất lớn).
- Thiết kế Bao che: Tôn mái và tôn thưng vách phải được kiểm tra khả năng chịu lực hút gió cục bộ (local suction) cao hơn, dẫn đến việc tăng mật độ vít liên kết hoặc sử dụng các loại đai kẹp (clips) chống bão chuyên dụng.
- Tối ưu hóa Khung: Với tải trọng gió tăng, các giải pháp khung thép cường độ cao (Q355) và tiết diện biến thiên (tapered sections) trở nên hiệu quả hơn để kiểm soát chuyển vị ngang (drift) mà không làm tăng quá nhiều trọng lượng kết cấu.

TCVN 2737:2023 là một bước tiến cần thiết để đảm bảo an toàn công trình trước biến đổi khí hậu. Mặc dù nó đặt ra những thách thức về tăng tải trọng thiết kế, nhưng với năng lực kỹ thuật vững vàng, Xây lắp Hải Long biến thách thức này thành cơ hội để cung cấp các giải pháp kết cấu bền vững, an toàn và tối ưu chi phí trọn đời cho khách hàng, đặc biệt là các nhà đầu tư FDI quan tâm đến sự an toàn dài hạn của tài sản.



